Mạc Tuyền: nhà văn và những kí ức làm du đãng quận 4

Ông lớn lên cùng thời với Năm Cam, người sau này trở thành trùm xã hội đen ở Sài Gòn và bị án tử hình. Ngày ấy ở khu Gò Bà Mụ – đường Tôn Đản – quận 4, giữa ông và Năm Cam chưa chắc ai “du đảng” hơn ai. Nếu như cuộc đời cứ diễn ra một cách bình thường, có lẽ ông cũng trở thành một trong những tay anh chị xã hội đen khét tiếng ở Sài Gòn.

Thế nhưng, cuộc đời đã run rủi cho ông nghe được bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” và rồi gặp tác giả bài thơ là thi sĩ Kiên Giang để sau đó trở thành “đệ tử” của nhà thơ. Cuộc đời ông đã chuyển hướng hoàn toàn, ông trở thành nhà văn, soạn giả, nhà thơ, nhà báo, đạo diễn… Ông suýt là người đầu tiên ở Việt Nam chạm tay vào kỷ lục thế giới.

Giang hồ, ta chỉ giang hồ vặt…

Mãi nhiều năm sau này, khi tình cờ đọc bài thơ “Giang hồ” của một đồng nghiệp ở An Giang, trong đó có câu “Giang hồ, ta chỉ giang hồ vặt – Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”, nhà văn Mạc Tuyền (tên thật Đỗ Phú Tuấn, hội viên Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Long An) bỗng vỗ đùi cái “đét”, nói sao mà giống tâm trạng của ông mấy mươi năm về trước. Ngày ấy ông cũng là “giang hồ”, là “trùm du đảng” ở quận 4, thế mà chỉ tình cờ nghe 1 bài thơ, rồi gặp tác giả của nó, ông đã bỏ thế giới giang hồ, đi vào con đường văn chương, sống cả cuộc đời lương thiện.

Gia đình ông gốc miền ngoài, di cư vào định cư ở quận 4 đã lâu. Ông sinh ra và lớn lên trên vùng “đất dữ” ấy, và “tự nhiên” trở thành du đảng chuyên bảo kê cho hàng quán, đòi nợ thuê, đánh mướn, tranh giành lãnh địa… Ngày ấy, vào đầu thập niên 1960, chỉ nghe đến giang hồ quận 4 là dân Sài Gòn đã rùng mình. Mà ở quận 4, nghe nói tới giang hồ ở đường Tôn Đản là ai cũng phải ngán.

Còn trên đường Tôn Đản, khu vực Gò Bà Mụ là nơi chỉ dành cho các “trùm du đảng”. Tên du đảng Mạc Tuyền dù mới 17 tuổi, nhưng đã được dân giang hồ quận 4 xếp ngồi “chiếu trên”, hoạt động ở khu vực Gò Bà Mụ. Cái gò có nhiều mả và nhiều nhà dân sống tạm bợ, nghèo khó. Tại đó có một bà mụ vườn chuyên đỡ đẻ giúp mói người, vậy là có tên Gò Bà Mụ gắn với thế giới giang hồ, du đảng nổi tiếng nhất quận 4 và cả Sài Gòn. Lần ấy, ông một mình tìm vào lãnh địa của một trùm du đang ở Gò Bà Mụ với chiếc mã tấu giấu trong ổ bánh mỳ.

Gặp tên trùm, ông rút mã tấu và nói thẳng: “Tao muốn đấu với mày, nếu mày thắng, muốn làm gì tao cũng được, kể cả giết chết. Nếu mày thua, nhường vị trí của mày cho tao..”. Tên trùm du đảng đang hút và được mấy em đấm bóp, bỗng thấy “Tuấn Đen” (biệt danh của Mạc Tuyền lúc ở quận 4) cầm mã tấu thách đấu, đã chùn tay và chấp nhận “nhường ngôi”. “Luật giang hồ” ở quận 4 lúc đó là vậy, ai thắng người đó lên ngôi!

Quận 4 mới ra đời sau năm 1954, khi đoàn quân của Bảy Viễn từ Rừng Sác kéo về phục tùng anh em Diệm – Nhu. Quận 4 được dân tứ xứ đến định cư, vì vậy mà sống tạm bợ, nghèo khó, quận 4 lại có cảng Sài Gòn giao lưu với quốc tế, nên dân bất hảo tập trung về đây nhiều hơn nơi khác, dần hình thành nên thế giới giang hồ, giống như cảng Marseille của Pháp hay “giang hồ Hải Phòng”.

Nhiều tay giang hồ hạng gộc ở Sài Gòn đều có gốc gác quận 4. Nhiều băng du đảng có hạng ở khu vực chợ Cầu Muối, chợ cầu Ông Lãnh cả trước và sau ngày miền Nam giải phóng cũng xuất phát từ giang hồ quận 4 mà ra. Sếp sòng băng du đảng khét tiếng một thời là Đại Cathay là dân quận 4 chính cống. Xuất thân trong một gia đình lao động làm thuê ở quận 4, Đại sớm lăn lóc nếm trãi mùi đời từ thời niên thiếu.

Nhà văn Mạc Tuyền và nhà thơ Kiên Giang tại đám tang của 1 người bạn tháng 11 năm 2011.

Lớn lên Đại trở thành sếp sòng băng du đảng hoành hành trong khu vực gần rạp hát Cathay ở quận nhất, được giới giang hồ đặt biệt danh là Đại Cathay. Đại Cathay lầm lì ít nói, hay ra tay nghĩa hiệp, nằm bót cảnh sát như cơm bữa, nhưng vẫn đối xử với đàn em rất tử tế, hành xử với các băng giang hồ khác rất “mã thượng”, nhờ vậy mà có tiếng tron ggiới giang hồ Sài Gòn.

Ngoài ra, Thế Héristos khét tiếng sếp sòng băng du đảng lộng hành trong khu vực gần rạp hát Héristos ở quận nhất cũng là dân quận 4 chính cống. Trong bảng xếp hạng “tứ đại thiên vương” sếp sòng du đảng Sài Gòn trước ngày giải phóng là Đại, Tì, Cái, Thế thì quận 4 chiếm hai ngôi vị thứ nhất và thứ tư. Sau ngày giải phóng, giang hồ quận 4 tiếp tục làm rùm beng Sài Gòn bởi trùm xã hội đen Năm Cam cũng xuất thân từ quận 4.

Ngày trước, người lương thiện từ phương xa hoặc các quận khác ở Sài Gòn luôn e ngại khi đặt chân tới quận 4. Người lạ đi vào các con đường Tôn Đản, Đỗ Thành Nhân, Nguyễn Khoái, Xóm Chiếu rất dễ bị du đảng hành hung. Hễ chúng gai mắt với người lạ mặt nào đó là kiếm chuyện gây sự. Nếu ai chống cự lại, chúng sẵn sàng đả thương trí mạng người vô tội rồi rút vào những con hẻm ngoằn ngoèo, biến mất, nạn nhân không thể thưa kiện được, mà có thưa cũng không ai dám xử.

Do vậy, người cần thiết đi vào khu vực có du đảng lộng hành thường cảnh giác không dám nhìn mặt ai để khỏi gặp lôi thôi. Dân giang hồ quận 4 chịu chơi tới mức người ta đồn đại những tay hảo hớn đất cảng dám cưa đứt cả chân vịt tàu buôn đang bỏ neo tại thương cảng Sài Gòn để tàu không thể nhổ neo rời bến, phải nán lại chờ sửa chữa khắc phục hoàn chỉnh. Đó là lúc dân giang hồ trộm cắp ở quận 4 ra tay “đánh” hàng ở dưới tàu.

Quận 4 cũng sản sinh ra những băng đàn bà, con gái chuyên móc túi. Mỗi sáng họ ngồi trên những chiếc xích lô như những người trưởng giả, tỏa đi các chợ, bến xe, bến tàu để hành nghề móc túi những người thiếu cảnh giác. Trưa, chiều họ ăn cơm quán phong lưu, tối thì tụ tập đánh bài bạc tới gần nửa đêm. Ở quận 4 cũng “nổi tiếng với những ổ tiêm chích ma túy trong những khu xóm đông đúc dân lao động.

Dân nghiện ma túy chôm chĩa từ tứ xứ đổ về quận 4 để chích choác, thỏa thuê. Trai tứ chiếng gặp gái giang hồ nên nhiều cặp vợ chồng bất lương cùng là dân quận 4 chính cống. Dân giang hồ quận 4 hay xăm trên cánh tay, bả vai, ngực, lưng những dòng chữ màu xanh như: hận đời, xa quê hương nhớ mẹ hiền, tứ hải giai huynh đệ, chịu chơi chơi tới cùng, một đi không trở lại…

Hay những dòng chữ “văn chương” hơn như: chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, hận đời đen bạc hận kẻ bạc tình, ai khổ vì ai… Ấn tượng hơn là những hình xăm quả tim bị trúng tên, phụ nữ khỏa thân, sọ người, đầu cọp, rồng quấn… Rùng rợn hơn là hình xăm cỗ quan tài có cắm ba ngọn đèn cầy với người phụ nữ quỳ khóc với dòng chữ bân dưới “kỷ vật cho em”! Dân giang hồ quận 4 xăm mình ấn tượng như thế để tự giới thiệu là dân chịu chơi thứ thiệt với mọi người.

Trước năm 1975, du đảng quận 4 khi đã chán cảnh đánh nhau, cướp giật, bao gái, hút chích…, thì rũ nhau đăng lính biệt kích, lôi hổ, thủy quân lục chiến, nhảy dù, biệt động quân dữ dằn của quân đội Sài Gòn để tìm “cảm gáic mạnh”. Xui rủi cho những xóm làng, những người dân lương thiện, những cô gái nhà lành tình cờ gặp bọn lính ác ôn này khi chúng đi hành quân.

Tất nhiên, trước giải phóng cũng có nhiều người dân quận 4 hiền lành, lương thiện, nhưng cũng phải chịu oan tiếng “giang hồ quận 4”. Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng đã kiên quyết trừng trị những băng giang hồ, du đảng, dần dần ổ định tình hình an ninh, trật tự ở quận 4. Ngày nay, đến quận 4, người lạ không còn “lạnh giò” như xưa.

Sinh ra (năm 1946) và lớn lên trong môi trường “giang hồ, du đảng” ở quận 4, Mạc Tuyền đã biết làm “du đảng” từ 9 – 10 tuổi, vừa đi học vừa làm “du đảng”. Lên 15 – 16 tuổi, ông đã có tên tuổi trong giới giang hồ ở đường Tôn Đản. Đến năm 17 tuổi, ông đã được xếp vào khu Gò Bà Mụ. Cũng trong năm đó, ông tình cờ nghe được bài thơ của thi sĩ Kiên Giang và nó đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông.

Nghe một bài thơ bỗng hóa hiền

Ở Sài Gòn trước ngày miền Nam giải phóng, các tướng cướp, các trùm du đảng lại hay đèo bồng chuyện văn chương. Các “đại ca” bao giờ cũng cố tỏ ra vẻ mình yêu thích văn chương, thậm chí là sáng tác văn chương để “làm le” với thuộc cấp và để lấy lòng gái đẹp. Không thiếu những trùm xã hội đen viết tiểu thuyết, làm thơ được đăng trên báo Sài Gòn hẳn hoi.

Vốn học giỏi văn, ít nhiều có yêu thích văn chương, giờ lại muốn “lấy le” với đám đàn em, Mạc Tuyền cũng mua tiểu thuyết, mua mấy tập thơ về đọc, rồi giảng giải cho đám du đảng thất học, không biết gì về văn chương nghe. Tối tối, Mạc Tuyền thường mở radio để nghe chương trình thơ ca có tên “Mây Tần” do nhà thơ Kiên Giang phụ trách.

Một lần ông nghe giọng ngâm nam thật trầm ấm bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của nhà thơ Kiên Giang, rồi sau đó nghe bản nhạc của Huỳnh Anh được phổ từ bài thơ này hát đi hát lại nhiều lần trên radio: “Hoa trắng thôi cài trên áo tím / Từ ngày binh lửa ngập quê hương / Khói bom che khuất chân trời cũ / Che cả người yêu, nóc giáo đường…”.

Nghe giọng thơ buồn, hình ảnh nóc giáo đường bị khói bom che phủ làm lâng lâng tâm hồn đa cảm của chàng trai mới lớn dù khoác bên ngoài lớp áo “du đảng”. Yêu bài thơ, tên du đảng tìm hiểu về tác giả của nó – nhà thơ Kiên Giang.

Nhà thơ Kiên Giang.

Nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà tên thật là Trương Khương Trinh, sinh năm 1927 ở Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ông cũng là đồng hương và là bạn của nhà văn Sơn Nam từ thời trẻ. Tuổi thơ của nhà thơ Kiên Giang trải qua những nhọc nhằn từ vùng U Minh Thượng, nơi cha cày ruộng thuê, mẹ gie gạo (giã ra gạo sàn trắng) để có tiền đóng học phí cho thầy. Năm 1943, nhà thơ Kiên Giang theo học trường tư thục Lê Bá Cang ở Sài Gòn.

Năm 1944, đến ở tại Cần Thơ đi học trường tư thục Nam Hưng, để rồi có một mối tình học sinh chớm nở. Rồi cuộc chiến tranh kháng Pháp nổ ra, ông từ giả mái trường, từ giả người bạn gái để đi theo kháng chiến bảo vệ tổ quốc. Sau đó ông hay tin người nữ sinh ấy đã lên xe hoa.

Từ đó bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” ra đời với hình ảnh người con gái mang tà áo tím thướt tha cùng nét chữ bay bướm đã khiến ông thương thầm nhớ trộm. Từ năm 1955 nhà thơ soạn giả Kiên Giang – Hà Huy Hà xuất hiện nhiều trên văn đàn Sài Gòn. Sau làm thơ, ông soạn tuồng cải lương và viết báo.

Ở lĩnh vực cải lương, Kiên Giang – Hà Huy Hà rất nổi tiếng cùng thời với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Quy Sắc… Các tác phẩm cải lương của soạn giả Hà Huy Hà có thể kể đến “Áo cưới trước cổng chùa”, “Người vợ không bao giờ cưới” là đỉnh điểm cho sự thành danh của ông, trong đó vở cải lương “Người vợ không bao giờ cưới” đã giúp cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải thưởng Thanh Tâm, từ đó trở thành một ngôi sao trong giới nghệ sĩ cải lương.

Trước năm 1975, nhà thơ soạn giả Kiên Giang – Hà Huy Hà còn phụ trách ban thi văn Mây Tần trên Đài phát thanh Sài Gòn, làm ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn như nhật báo Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng…

Ông cũng từng tham gia phong trào “Ký giả đi ăn mày” và dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại những quy chế khắt khe của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu áp đặt lên giới báo chí lúc đó. Sau năm 1975, Kiên Giang được cử làm phó đoàn cải lương Thanh Nga, và làm việc tại phòng nghệ thuật sân khấu, đồng thời là Ủy viên Ban chấp hành Hội Sân khấu TP.HCM 3 nhiệm kỳ.

Nhà thơ Kiên Giang viết nhiều thơ, đã xuất bản “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” (1962), “Lúa sạ miền Nam” (1970), “Quê hương thơ ấu”… “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” có lẽ là bài thơ nổi tiếng nhất của thi sĩ Kiên Giang, đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và được nhiều ca sĩ thể hiện rất thành công. Bài thơ kết thúc bằng 4 câu: “Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo/ Nhưng tin có chúa ở trên trời/ Trong lòng con, giữa màu hoa trắng/ Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”.

Tên du đảng Mạc Tuyền sau khi đọc và mê mẫn bài thơ, bỗng như quên mình là du đảng, xao nhãng việc bảo kê, tranh giành lãnh địa, mà dành nhiều thời gian để nghiền ngẫm tập thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím. Để rồi một ngày nọ, tên du đảng 18 tuổi đã rụt rè đến Đài Phát thanh Sài Gòn để tìm gặp nhà thơ Kiên Giang. Tiếp xúc với người thanh niên du đảng mà yêu thích và có khiếu văn chương, nhà thơ Kiên Giang rất thú vị, và ông đã nhận ngay Mạc Tuyền làm “đệ tử”, về chung sống cùng ông.

Từ đó Mạc Tuyền rời xa mội trường “du đảng”, sống trong không khí văn chương, thơ ca bên ông thầy tài năng, phong lưu. Ông đã cầm tay chỉ việc viết lách cho “thằng du đảng” chẳng bao lâu sau Mạc Tuyền có bài viết đăng trên báo, cả văn xuôi và thơ. Mạc Tuyền bỏ hẳn nghề “du đảng”, trở thành thầy giáo dạy văn thơ, nhạc họa cho các trẻ em ở Làng Cô nhi Long Thành, vừa tiếp tục sáng tác văn học với sự đỡ đầu của ông thầy Kiên Giang.

Từ chối đứa con rơi

Sau ngày miền Nam giải phóng, dù đã có vợ con, nhưng Mạc Tuyền vẫn tiếp tục gắn bó với ông thầy Kiên Giang trong hoạt động sáng tác văn học. Những năm đầu sau ngày giải phóng, phong trào cải lương phát triển rất mạnh. Lúc đó bất cứ lễ hội gì, đám cưới, tiệc tùng gì cũng có hát cải lương. Thế nhưng, những bài hát dưới chế độ Sài Gòn thì bị cấm lưu hành, còn những bài ca cổ cách mạng thì chủ yếu nói về cuộc chiến chống Mỹ xâm lược. Yêu cầu cuộc sống cần có những bài hát nói về tình yêu trai gái nhưng thể hiện được tính cách mạng.

Một người bạn cộng tác cho Đài Phát thanh Sài Gòn đặt hàng Mạc Tuyền viết bài ca cổ như thế. Là đệ tử của soạn giả cải lương Kiên Giang, nên Mạc Tuyền cũng biết chút đỉnh một số bài bản chính của cải lương. Và anh đã mất 1 đêm viết bài ca cổ “Hoa tím bằng lăng” vừa có tính cách mạng, vừa có tình yêu trai gái. Viết xong, anh đưa người bạn văn tên Hà Minh Mẫn là cộng tác viên của Đài Phát thanh Sài Gòn. Chị Minh Mẫn sửa lại một số chỗ, xong đưa cho nhà đài sử dụng.

Từ TP.HCM, Mạc Tuyền về sống ở quê vợ ở Bến Tre, xong trôi dạt về Long An làm văn nghệ cho Sở Xây dựng tỉnh này. Nhiều năm sau, một lần tình cờ nghe 2 nghệ sĩ nổi tiếng Thanh tuấn – Thanh Kim Huệ hát bài “Hoa tím bằng lăng” trên đài, Mạc Tuyền thấy quen quen, sau đó đã nhớ lại bài hát mà mình đã sáng tác.

Nhà văn Mạc Tuyền.

Thời ấy tiền tác quyền chẳng đáng là bao, cũng không ai nghĩ tới “sở hữu trí tuệ”, nên Mạc Tuyền cũng không buồn để ý tới bài hát. Vậy là suốt mấy chục năm trời, bài ca cổ thuộc loại nổi tiếng nhất về chủ đề tình yêu trai gái sau ngày giải phóng vẫn cứ chịu số phận “con không cha”, bài hát không có tác giả.

Cách đây vài năm, tình cờ một nhà báo ở Long An biết chuyện ông là tác giả bài ca cổ nổi tiếng “Hoa tím bằng lăng”, đã dày công đi điều tra, tiếp xúc với nhiều người trong cuộc để cuối cùng chứng minh: bài ca đó do Mạc Tuyền viết năm 1977, được 1 bạn văn chỉnh sửa nhiều chỗ, trở thành 1 trong những bài ca cổ nổi tiếng nhất từ sau ngày giải phóng miền Nam đến nay. Thế nhưng, Mạc Tuyền đã từ chối làm thủ tục sở hữu “bản quyền” bài ca. Lý do: “Có được bài hát được người đời yêu thích là hạnh phúc rồi, cần gì “bản quyền” hay “sở hữu trí tuệ! Để thời gian làm việc khác có ích hơn”.

Xông vào kỷ lục thế giới

Cuối năm 2010, Trung tâm Sách kỷ lục VN đã tổ chức trao giấy xác lập kỷ lục người cao tuổi nhất Việt Nam cho Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Viết, ngụ ấp Cả Gừa, xã Tuyên Bình Tây, huyện Vĩnh Hưng (Long An). Mẹ Viết sinh năm 1892, mẹ sinh 10 người con, có 7 con trai và 1 cháu nội là liệt sĩ.

Sau đó, hồ sơ về mẹ Viết đã được làm để gửi tới Sách Kỷ lục Guinnes thế giới để đề nghị công nhận mẹ là người cao tuổi nhất thế giới còn sống. Đứng ra làm hồ sơ để mẹ Viết được công nhận là người cao tuổi nhất nước và đề nghị công nhận kỷ lục thế giới không phải là Sở VH-TT&DL, Sở LĐ-TB&XH, Hội VHNT hay cấp chính quyền nào của tỉnh Long An, mà là 1 người dân bình thường, đó là nhà văn Mạc Tuyền.

Ông cho biết, bản thân tuổi thọ 119 của mẹ Viết đã là điều đáng ngưỡng mộ, đây lại là Mẹ Việt Nam Anh hùng, người đã dâng hiến cho Tổ quốc đến 7 đứa con, càng đáng được tôn vinh. Thuyết phục các cơ quan chức năng tỉnh Long An làm hồ sơ công nhận kỷ lục Việt Nam cho mẹ mà chẳng đơn vị nào nhận làm, ông Mạc Tuyền đã tự mình tìm hiểu thủ tục và dày công làm bộ hồ sơ gửi Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam.

Vừa làm hồ sơ công nhận kỷ lục, ông vừa làm bộ phim tư liệu về mẹ Viết. Trước đó ông cũng vận động các cơ quan chức năng tỉnh Long An làm bộ phim này, nhưng không kết quả. Từng làm trợ lý đạo diễn lúc còn trẻ, quá rành công việc làm phim, ông đã tự mình thực hiện bộ phim. Ông viết kịch bản, mướn máy quay và những đạo cụ cần thiết, rồi nhờ bạn bè đi “bấm máy”.

Dù vậy bộ phim (dài 15 phút) cũng ngốn hơn 20 triệu đồng từ tiền viết sách, viết kịch bản phim hàng đêm của ông. Làm phim xong, ông đem tặng bạn bè làng văn và hầu hết quan chức tỉnh Long An, đồng thời nài nĩ Đài PTTH Long An phát sóng (không trả tiền bản quyền) nhân dịp mẹ Viết được công nhận kỷ lục.

Ông cho biết, người Nhật, người Mỹ rất tự hào khi người dân họ lập kỷ lục thế giới sống lâu 115 – 116 tuổi. Nay mình có người thọ 119 tuổi, mà lại là Mẹ VNAH, thì bằng mọi giá phải tôn vinh cho thế giới biết. Nếu cần phải bỏ chi phí ra giám định AND hay thủ tục nào khác, ông sẽ lo hết, mặc dù kinh tế của ông khá khó khăn, không dư dả gì.

Ông quan niệm: kỷ lục sống lâu không chỉ có ý nghĩa về tuổi thọ, mà còn là văn hóa, là “thương hiệu” du lịch cho một vùng đất, một đất nước. Thế nhưng, khi thủ tục xét công nhận kỷ lục thế giới sắp xong, thì bất ngờ mẹ Viết đã qua đời vào giữa năm 2011.

Ông đã khóc khi hay tin mẹ mất, ông đến ở suốt mấy ngày đám tang mẹ, xong xin lưu giữ những đồ dùng của mẹ như ống nhổ, cái dao bầu, ống ngoái trầu… để làm chứng tích cho một người mẹ Việt Nam đã từng sống thọ nhất thế giới. Một niềm an ủi đã đến với ông khi cơ quan chức năng ở Long An sau đó đã hoàn trả số tiền mà ông bỏ ra lo cho mẹ Viết.

Tình thầy trò

Cách đây 5 năm Mạc Tuyền còn ở nhà tập thể cơ quan, khi khu tập thể bị giải tỏa, ông xin được ít vật liệu phế thải về cất nhà ở tạm trên bờ kênh công cộng ở ngoại ô TP.Tân An. Cách đây 3 năm, một bữa ông đi Sài Gòn nộp bản thảo cuốn truyện vừa viết, sự cố chập điện đã thiêu rụi nhà ông. Trở về đứng trước đống tro tàn, ông không tiếc của (có đồ đạc gì đáng giá đâu mà tiếc), mà chỉ xót toàn bộ văn thư một đời viết lách đã thành tro. Bạn bè làng văn quyên góp giúp ông cất lại nhà ở tạm.

Không biết có phải do “cháy nhà lúc nước lớn” (quan niệm dân gian Nam bộ là điềm lành) hay không, mà từ dạo ấy ông có nhiều đơn đặt hàng viết sách, viết kịch bản phim…Con trai của ông ở Sài Gòn làm ăn cũng thuận lợi hơn. Cha con ông dành dụm mua được khoảnh đất heo hút bên sông Vàm Cỏ Tây. Rồi họ tự thiết kế, vẽ vời để xây ngôi nhà tuy chẳng tốn bao nhiêu tiền nhưng khá xinh xắn, đầy chất “nghệ sĩ”, đúng với phong cách “Mạc Tuyền”. Vậy là đến tuổi 64 lần đầu tiên ông có nhà thực thụ.

Tình cờ vào ngày 13 tháng 12 năm 2011, người viết bài đã gặp thầy trò Kiên Giang – Mạc Tuyền tại nhà lưu niệm nhà văn Sơn Nam ở TP.Mỹ Tho. Sơn Nam là bạn thân của Kiên Giang, vì vậy mà cũng như thầy của Mạc Tuyền.

Thỉnh thoảng Mạc Tuyền lại chở thầy Kiên Giang đi thăm thú đó đây. Không phải tới lúc có nhà cửa ông mới quan tâm chăm sóc người thầy đáng kính Kiên Giang, ngay từ khi còn “nghèo rớt mùng tơi”, Mạc Tuyền vẫn luôn tôn kính, lo lắng cho người thầy cũng nghèo như ông.

Cái ơn của ông thầy Kiên Giang đã lôi ông ra khỏi vũng bùn “du đảng”, chỉ cho ông cách sống, cách viết lách văn chương, làm cho cuộc đời ông trở nên có ý nghĩa, ông sống thì nhớ, chết mang theo. Mới đây, Mạc Tuyền đã đứng ra lo xuất bản tổng tập một đời sáng tác của nhà thơ Kiên Giang. Tết này nhà thơ Kiên Giang đã 85 tuổi, Mạc Tuyền cũng gần 70, nhưng họ đã lên kế hoạch vượt đường xa đến với nhau, như thuở hai thầy trò cùng sống và sáng tác chung nhau cách đây gần nửa thế kỷ.

Song Kỳ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *